Đường Về Tên Trộm
Gửi bởi: , Ngày đăng: 05/03/2010, Lần xem: 142, Thảo luận: 0 lượt.
Gã tiều phu năm ấy đã trở về vườn vắng hôm nao, nơi người ra đi. Vấn vương bao nỗi nhớ cùng năm tháng đong đầy hồn yêu thương chất ngất. Lượm lặt đôi dòng tâm tưởng góp gom mấy mối tơ lòng trao gởi về ai gọi là …

Anh Trộm !

Từ ngày anh về miền ánh sáng, đã có ai viết cho anh và viết về anh chưa nhỉ?

Hôm nay, lưu ký một Tình Yêu, mộng mơ em viết cho anh, viết lên lối về anh đã đến. Em nói “anh đã đến” bởi vì chúng ta chỉ về khi ta vốn ở đó mà đi. Trước khi anh về, anh chưa hề ở đó và nhân loại cũng chưa có ai từng ở đó. Còn bây giờ sau lối nhỏ anh về, nơi ấy đã trở thành quê hương của tất cả chúng ta.


Anh cùng về với Người, Cha Giêsu của chúng ta, trong bối cảnh lịch sử độc nhất của Ân Tình Cứu Độ. Người ta tưởng nghĩ rằng đó là “Lối nhỏ” của riêng anh, nên em chưa thấy ai tìm về bằng lối anh đi. Do vậy, người ta chỉ cho em đường về vinh dự, những con đường nhiều bậc anh hùng, nhiều vị thánh đã từng đi. Em thấy, và thấy lo vì thân mình bất lực. Hạt bụi nhỏ, hồn hoa dại dám đâu mơ mộng được trưng bày nơi cung thánh điện thờ. Đôi tay bé bỏng đâu nghĩ đến hái điều cao diệu, hồn tội lỗi rốt hèn đâu mong được “có” đến tự hào.


Anh ơi! Anh có nghĩ rằng Cha đã dùng anh để mở lối cho chúng em không? Những hồn thơ thật yếu đuối và nhiều lầm lỡ như anh đó? Nếu thế, anh giúp em với nhé! Em viết lên cho chính mình cũng thấy, không phải ngẫu nhiên hay bởi duyên – tiền – định mà qua vài câu nói anh được về, được cứu độ cách lạ lùng như thể ơn ấy chỉ dành riêng cho mỗi riêng anh.


Ôi! Cha đã thương xót hết thảy chúng ta ngần nào phải không anh! Xin chúc mừng anh, tạ ơn Chúa.


Chung vui với anh, em viết về anh đây. Hẹn anh ngày chúng ta cùng uống rượu nho của Nước Trời.    


Chúc tụng Cha - Thiên Chúa Ba Ngôi nhờ Đức Mẹ Đồng Trinh. Amen 


Chiếc đèn trời rực rỡ đã chênh chếch nghiêng nghiêng những tia nắng hiền hoà hơn, không dữ dội cháy bỏng như lúc còn treo đứng trên đầu người, lẫn trong đám đông hắn thấy và nghe rõ câu chuyện xảy ra giữa người phụ nữ và dân Sa-ma-ri (Ga 4, 39-42). Đâu có lạ gì người phụ nữ, hắn biết chị ấy. Chị tốt bụng, nhiệt tình và chân thực. Người phụ nữ này còn đáng tin hơn nhiều so với nhiều kẻ vị vọng trong đền thờ khoác vẻ công chính mà hắn biết. Chỉ có điều chị tựa bông hoa dại bên lề đời trót mang lấy phận hồng nhan.


Hắn thở dài, lòng xót xa cho chị như cho chính cuộc đời hắn. Chị được Người xin nước uống. Rồi Người lại tỏ cho chị hãy xin Người nước hằng sống (Ga 4, 7-14). Câu chuyện không liên quan đến hắn, nhưng lại xoáy sâu vào tâm thức hắn. Lời nói của Người vẫn hấp dẫn và thuyết phục làm sao. Đánh động lòng hắn, mỗi khi hắn nhớ tới Người. Đã bao năm sống tựa lá trôi dòng nước, lang thang phiêu dạt không hề biết tới ngày mai, không có lấy một tình thân. Để lấp đầy cái bụng đói meo, hắn phải bòn rút của tiền kẻ khác. Nhưng có Đức Chúa biết, hắn đâu có làm như bạn bè hắn. Chẳng bao giờ hắn lấy cắp của kẻ nghèo. Giữ lời trăng trối của mẹ như kỉ vật qúi báu còn sót lại, hắn cố tìm để được tin vào Đức Chúa như mẹ. Thường nhớ lại câu chuyện mẹ từng kể nhiều lần cho hắn nghe. Niềm tin của mẹ vào Đức Chúa của tổ tiên in đậm nơi lòng hắn. Lời mẹ kể ru mãi trong hồn niềm tin ấy: “Vào một đêm đông, lúc rừng bắt đầu chuyển đổi nhịp sống. Ánh sáng vệt trăng mờ và các vì sao không đủ xuyên qua màn sương xuống sớm và tán lá dày đặc, rừng được soi bằng những bông hoa sáng đom đóm lập loè. Khi hắn chào đời được mấy tháng. Muỗi rừng và bọ chét làm cho thân thể hắn đầy ghẻ chốc. Ngứa ngáy, đau nhức khiến hắn khóc nhiều, bú ít dần. Và đêm ấy hắn đã lên cơn sốt mê man. Đang lúc cha mẹ hắn bối rối, thấp thỏm bồn chồn lo âu cho sinh mạng đứa con đầu lòng. Đêm trong rừng càng thêm đặc quánh nỗi rùng rợn hãi hùng. Thỉnh thoảng lại im phăng phắc, tưởng chừng nghe được tiếng thở xạc xào của muôn vàn cỏ lá. Lòng mẹ thương con nghẹn ngào, biết cầu cứu ai đây! Mẹ gục đầu bên hắn nước mắt lưng tròng, nghẹn ngào thầm thì cùng Đức Chúa. Cha hắn đi đi lại lại bên chiếc giường bốc mùi cỏ ẩm. Ngọn bấc dầu ô liu soi tỏ vầng trán đổ mồ hôi, thỉnh thoảng nhăn, lại lộ rõ vẻ đau đớn và bất lực. Dường như đến lúc phải đối mặt với sự chết của đứa con duy nhất, ông mường tượng lằn roi của Đức Chúa dành cho cuộc sống đốn mạt của ông. Ông ngồi xuống bên giường, hai bàn  tay run  rẩy ôm đầu, ân hận, hối tiếc, đớn đau tưởng như đã  quá  muộn  màng. Ôi! Nếu như  Đức Chúa cứu lấy con ông, bằng mọi giá ông sẽ bỏ đường xưa lối cũ. Sẽ không còn dám lỗi luật Ngài. Không gian trở nên u ám bởi chiếc lưới tử thần đang dần phủ xuống, bất chợt bị xua tan. Có tiếng bước chân người vồn vả tiến lại gần. Mẹ hắn đứng bật dậy lòng tràn trề tin tưởng Đức Chúa sẽ cứu lấy con bà. Bước ngay đến cánh cửa nặng nề làm bằng cây rừng để đề phòng thú dữ, bà mở then cài. Cùng lúc có một tiếng người đàn ông vội vàng kêu cửa, giọng trầm ấm rõ ràng không dấu được vui mừng, cha hắn bước nhanh lại đẩy cánh cửa ra. Bóng đêm loảng đi nhường chỗ cho diện mạo hai người một nam, một nữ. Người đàn ông quảy hành lý, còn người nữ tay bế một hài nhi. “Vợ chồng chúng tôi lỡ đường, xin anh chị làm ơn cho chúng tôi trú nhờ một đêm. Sáng sớm mai chúng tôi sẽ lên đường”. Giọng trầm ấm đầy thân thiện của người chồng đánh tan  sự ngỡ ngàng của cha mẹ hắn. Cha hắn mắt không rời họ miệng buồn bả nói: “Hai người bế cháu vào đi”. Hai vợ chồng cùng bước vào trông cả hai đều mệt nhọc vì băng quãng đường xa. Vừa bỏ gánh hành trang trên vai xuống, người chồng đã đưa hai tay ra nói : “Nàng đưa con tôi bế cho bớt mỏi”. Người vợ tần ngần giây lát rồi nhẹ nhàng bế đứa con nhỏ đang ngủ yên úp mặt vào ngực mẹ, trao cho chồng. Ánh  sáng  trong  căn  nhà  nhỏ  dường  rạng  rỡ  hơn  bởi khuôn mặt hồng hào tôn qúi. Làn da trắng mịn nõn tựa cánh hoa lan làm nổi bật đôi môi hồng xinh xắn mỉm cười trong giấc ngủ. Hài nhi xinh đẹp lạ thường, trông chẳng khác một thiên thần ngủ say trong vinh quang thượng giới. Còn người mẹ sau khi trao con cho chồng, rút khăn che đầu lau bụi và mồ hôi trên mặt. Nếp áo dân dã lấm bụi đường xa càng làm tăng thêm vẻ thiêng thánh nơi dung nhan diễm lệ. Cô trông giống như công chúa con của vị vua sang giàu nhất, giả dạng làm thôn nữ, đẹp tựa hằng nga dịu dàng tỏa ánh nguyệt ngọt ngào xuống rừng đêm man dã, mang lại sức sống và niềm vui khi đêm về cho muông thú. Cha mẹ hắn sững sờ, ngưỡng mộ và kính tôn sắc đẹp mang sự an bình thiên giới của hai mẹ con, quên mất cả lo lắng cho căn bệnh hiểm nghèo của hắn. Ngắm nhìn hai mẹ con, mẹ hắn nhớ ngay lời ngôn sứ được nghe mỗi khi trẩy hội về đền thánh “Này người nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-el” (Is 7,14b) Phải chăng hài nhi này là Đấng Mêsia, Đấng mà dân tộc mình hằng mong đợi? Lòng tự hỏi, hồn thấm đượm bình an, mẹ hắn thầm cầu nguyện “Ôi phải chăng con được diễm phúc thấy vinh quang và lòng thương xót của Ngài! Xin hãy nghe lời nô tỳ Ngài khẩn nguyện, để lòng từ bi Ngài tồn tại đến muôn đời. Ước chi con được Ngài thương đoái ban cho con của con được lấy một phần rất nhỏ hồng phúc của hài nhi này. Xin Ngài cứu lấy con của con!” Lời nguyện cầu vừa dứt trong lòng, mẹ hắn đã thấy mẹ của hài nhi bế hắn trên tay, cô áp má vào gương mặt ghẻ lở thê thảm của hắn với tràn trề cảm mến đau thương. Rồi cô trao hắn lại cho mẹ, hắn đã hết sốt tự bao giờ. Ngày hôm sau từ sáng sớm, hai vợ chồng và người con đã lên đường đi đến đất Ai-cập xa xôi. Còn hắn được tắm lại phần nước dùng tắm rửa cho hài nhi đêm qua, da thịt hắn sạch hết nghẻ chốc, trở lại mịn màng”. Nhớ lại kỉ niệm đẹp của gia đình hắn thầm tạ ơn Đức Chúa. Niềm tin an ủi phần nào nỗi bất hạnh phải mồ côi cả cha lẫn mẹ lúc hắn vừa đủ trí khôn.


Bây giờ hắn có thể đến xin Người lương thực và nước uống không bao giờ còn khát không? Hắn chột dạ, lòng can đảm tiêu tan đâu mất rồi. Ước gì hắn có cơ hội như chị người Sa-ma-ri, để hắn có thể làm lại cuộc đời. Ít nữa, hắn dứt bỏ được lối sống bị người đời khinh miệt. Trở lại người bình thường sống thanh thản như bao người. Và như thế lòng hắn sẽ bình an mỗi khi đêm về nhớ mẹ, nghĩ về Đức Chúa. Tiếng thầm thì trong sâu thẳm tâm hồn không còn làm hắn ray rứt, đớn đau. Mặc dù không hiểu chút gì về đạo lý, nhưng thỉnh thoảng hắn cũng vào đền thờ hay nhìn lên cao. Tìm kiếm trên trời thẳm thẳm Đức Chúa đã nghe lời mẹ hắn ban lại sự sống cho hắn. Hắn nuốt nước mắt vào  lòng, ao ước có được niềm tin như mẹ. Bất chợt, lần đầu tiên, hắn buột miệng nói thầm thì “Lạy Chúa xin đừng chê bỏ tấm lòng tan nát khốn khổ này!” Nước mắt hắn một lần nữa rơi xuống mặt bụi đám đông theo Người để lại.


Âm thầm hoà mình vào đoàn người, hắn nhớ lại bữa ăn no nê trên đồng cỏ, không chỉ no căng cái bụng ít khi được như thế, mà còn no thỏa cả tâm hồn (Mt 14, 15-20). Thật hạnh phúc vì thấy Người quan tâm đến tất cả mọi người, kể cả những kẻ bần cùng như hắn (Mt 14, 21). Lòng yêu thương hòa lẫn trong phép lạ lớn lao của Người. Phép lạ vĩ đại như Đức Chúa đã gieo Man-na trong sa mạc cho cha ông. Những hình ảnh, việc làm của Người sao cứ hiện về trong tâm thức hắn, thôi thúc suy nghĩ về Người. Người là ai ?


        Người là ai mà khi vừa bước lên bờ, sau phép rửa sám hối của Gioan, chính tai hắn nghe ông nói : “Đây chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian” (Ga 1, 29). Cái đầu không mấy thông minh của hắn gật gù, lộ rõ vẻ thích thú. Thật lòng hắn thấy mến Người. Người cần thiết cho đời hắn. Như ngôn sứ Gioan Tẩy Giả nói, Người hẵn là Đấng Mê-si-a. Vậy có thể Người chính là Hài Nhi năm xưa đã một lần ngụ tại nhà hắn, là Đấng Cứu Thế, Người có quyền tha tội cho hắn rồi. Hắn vui mừng, niềm vui chân chất tỏa lan trong lòng anh trộm. Hắn nghĩ hắn có thể gặp lại cha mẹ nơi Đức Chúa  ngự trị … Chỉ nghĩ đến bấy nhiêu thôi hắn đã thấy lòng là một cõi Thiên Đàng.


Cách đây có lâu đâu, cô bạn giang hồ từng qua đêm với hắn đã được người công khai tuyên bố tha tội, tại nhà một người Pha-ri-siêu nữa chứ. Nàng cũng đâu hơn gì hắn, những kẻ tội lỗi làm nhơ uế cuộc đời. Nhưng hắn thán phục rằng: nàng thật can đảm và quyết tâm. Nghĩ đến đó hắn lại thấy hổ thẹn, lương tâm một lần nữa ray rứt, đớn đau. Nàng đã hơn hẳn hắn, dám đến gặp Người. Hắn cũng muốn làm được như nàng, nhưng hắn sợ, sợ điều gì không rõ. Những lúc muốn cất bước đến với Người, hay đến hỏi xem Mẹ Người, có đúng Người là Hài Nhi năm xưa đó không. Thú nhận với Người về cuộc sống tội lỗi của hắn, để được Người tha thứ như nàng. Mỗi khi như thế, chân hắn lại nhũn ra, chôn chặt vào đất. Lòng bối rối, run lên, mất hết sức lực. Hắn lại nghĩ, cuộc đời tội lỗi tầm thường của hắn có còn xứng đáng đứng trước mặt Người nữa không? nếu chẳng may vì vụng về không nói nên lời, vì thấp hèn bất xứng Người không xua đuổi, quở mắng, nhưng chỉ lạnh lùng thôi. Hắn sẽ ra sao? Hắn sẽ mất hết niềm vui có được từ khi nghe Người nói: “Hãy ăn năn sám hối vì nước trời đã gần đến!” (Mc 1,15) Mà Nước Trời là gì nhỉ? Hắn lại băn khoăn, muốn đến được Nước Trời có phải làm giống như câu chuyện nàng gặp Người trong bữa tiệc.


Nàng quyết định lấy gia sản qúi báu nhất của nàng là bình dầu thơm để dâng cho Người đổi lại ơn thương xót. Từ khi thấy những người phụ nữ đạo đức đi theo Người, nàng đã muốn làm như họ. Nhưng dư luận và cái nhìn soi mói của nhiều người đã giết chết ý nghĩ đó, lúc nó vừa manh nha nhô lên tựa mầm cây đâm chồi biếc nơi lòng nàng. Hắn lại run lên, đặt mình vào địa vị của nàng, làm được như nàng còn khó hơn vào ăn trộm của một nhà giàu đầy chó dữ. Hơn nữa, hắn đâu có gì qúi để dâng Người. Nghĩ đến đấy, hắn lại xót xa tủi phận. Nàng đến với Người không nói gì, không hề mở miệng cầu xin. Tủi thân và khát vọng sám hối khiến nàng khóc nhiều. Lấy nước mắt rửa đôi chân bụi của Người như tẩy rửa cuộc đời nhơ uế của chính nàng. Rồi nàng lại lấy mái tóc mượt mà thơm ngát, từng làm đắm say lòng người ấy mà lau (Lc 7, 37-38). Đối với hắn, nàng làm như vậy là đã nói hết được lòng mình. Nàng yêu mến Người biết bao. Lạ thay Người vẫn để cho nàng làm. Không tỏ ra bực bội hay phản kháng vì nàng nhơ uế, tội lỗi, như một vài người đã nghĩ (Lc 7, 39).


Lòng mến thương, kính trọng và tin phục Người trở thành sức mạnh vô cương cho nàng đập vỡ bình dầu thơm qúi giá, xức cho Người. Ôi! Cái đập sao mà can đảm, mà thánh thiện đối với hắn. Hắn biết nàng từng qúi bình dầu ấy ngần nào, có bao giờ nàng rời khỏi  nó đâu. Nàng đập vỡ nó là đập tan cả quãng đời quá khứ, đập cho hương thơm xóa nhòa tội lỗi. Đập vỡ là chết đi chính bản thân mình và lối xưa hoa nguyệt cho linh hồn trở nên lành lặn. Là mở cửa con tim để khởi đầu nhịp sống mới giao hòa cùng ân tình cứu độ, cất tiếng sám hối vĩnh viễn với thời gian. Cái đập làm nên phép lạ rẽ nước biển đời cho người tội nhân, cô gái điếm bước vào lối về Thiên Quốc. Cái đập vỡ hàn gắn tình người và tình Chúa, nâng hư vô lên thoát thai trong sự vĩnh hằng.


Hoa Tình Yêu rộ nở, bởi được thấm máu tim nàng trong nước mắt đầm đìa. Hương thơm của mảnh hồn tan nát từ chiếc bình qúi vỡ tan, tỏa lan trong cung thẳm đền thờ cực thánh. Đấng Thần Nhân, Trái Tim Thương Xót Vô Biên mở rộng cửa đón linh hồn tội lỗi vào niềm vui cứu độ. Một lần nữa nước mắt tràn ra trên gương mặt giai nhân, những giọt nước mắt hạnh phúc. Nàng đã được Người tha tội (Lc 7,48).


Nghĩ đến đây, hắn bất chợt thay đổi nét mặt, cau có “Hừ! Sao lại có nhiều kẻ không tin Người, nhất là những người thường vênh váo nơi hội đường, tỏ ra mình tin vào Đức Chúa hơn ai hết”. Họ không tin Người có quyền tha tội! Không phải ông Gioan đã nói rồi sao? Hôm đó, nhiều người còn nghe cả tiếng Đức Chúa nói với Người “Đây là con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Mt 3, 17). Và chính bản thân Người cũng  từng minh chứng Người là Đấng có quyền tha tội. “Vậy, để các ông biết: ở dưới đất này, con người có quyền tha tội – Đức Giêsu bảo người bại liệt: Tôi truyền cho anh: hãy đứng dậy, vác lấy giường của anh mà đi về nhà! Ngay lúc ấy, người bại liệt trỗi dậy trước mặt họ, vác cái anh dùng để nằm, vừa đi về nhà vừa tôn vinh Thiên Chúa.” (Lc 5,21–25)


Miên man suy nghĩ hắn tụt hậu cuối đoàn người hồi nào không biết. Ngỡ chừng dòng tư tưởng của hắn có sức mạnh huyền bí nào cuốn hút Nhớ - Nghĩ đến Người. Người không quen với hắn, chưa một lần gặp gỡ đối mặt nói chuyện thân tình. Nhưng sao cứ như Người thật gần gủi, thật tâm giao. Việc Người làm, lời Người nói có sức ảnh hưởng sâu xa đến cuộc sống của hắn. Hắn thiết tha muốn dứt bỏ quãng đời tội lỗi, mơ ước được đặt chân lên ngưỡng cửa Nước của Người. Mặc dầu hắn biết mình muôn vạn lần bất xứng, chỉ được nghe một lời Người nói thôi, hắn đã thấy lòng tràn trào hạnh phúc và hy vọng. Cuộc sống của hắn từ tấm bé đã bị dìm sâu trong nỗi bất hạnh, đói rách, cô đơn, khổ đau và sỉ nhục. Tội lỗi xích xiềng lương tâm và niềm tin ít ỏi vào Đức Chúa mà hắn được thừa kế của mẹ. Nhưng giờ đây, theo bước chân Người trong thầm lặng, hắn có cảm tưởng không phải hắn đã bước theo Người nhưng chính Người đã đến, đến trong tâm tưởng hắn, đến thật âm thầm, đến thật thâm trầm, tháo tung tất cả xích xiềng ấy.


Hôm cuối cùng được thấy Người trong Đền Thờ trước đông đảo dân chúng, hắn nghe Người nói với các thượng tế và kỳ mục: “Tôi bảo thật các ông. Những người thu thuế, những cô gái điếm vào nước Thiên Chúa trước các ông. Vì ông Gio-an đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy, còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin”(Mt 21,31–32). Tâm hồn hắn lâng lâng, mơ màng, cuộc sống sao lại hư ảo như thật qua một làn sương mỏng. Hắn lại thấy mình đi đến một miền đất xa xôi, nơi ánh sáng chiếm hữu mọi bóng tối, thứ ánh sáng diệu kỳ rạng rỡ êm mát toàn bộ không gian, chẳng để lại cái bóng của vật thể nào. Hắn chạm tới, hút dần vào vùng sáng ấy, tan biến.

Cơn khát dữ dội kéo về như bảo cát miền sa mạc làm hắn tỉnh lại. Hắn cố lần chiếc lưỡi cứng đơ rát bỏng liếm vành môi khô khóc, cổ họng phì phò hơi thở nóng như cửa bể lò rèn. Dưới chân hắn  từng cái đầu đen lố nhố tựa đoàn âm binh chuyển động dần rõ dần. Âm thanh hỗn loạn chốc chốc dấy lên từ đám đông cuồng nộ, chẳng khác tiếng qủi gào dưới đáy vực âm ty vọng về. Cảm giác đau đớn, nhức nhối ở các vết lỗ  đinh  chuyển  theo  cơ  bắp  thấu  vào  tim. Những  sợi gân nơi hai cánh tay và hai bàn chân co giật, run rẩy liên hồi làm thân thể hắn thỉnh thoảng run lên bần bật. Hắn cố gượng chút sức mong manh còn lại, ấn hai bàn chân nâng người lên cho dễ thở hơn một tí. Song dường như thân thể không còn chuyển động theo ý muốn của hắn. Việc làm cuối cùng cố gắng thật lâu nâng từ từ gương mặt vấy máu bạc tạng lên. Hắn lờ đờ đưa mắt nhìn về phía Người, trông Người còn thê thảm hơn hắn. Cả tấm thân trần đầy những vết thương do lằn roi tra tấn đêm qua để lại, lòng hắn ngậm ngùi, xúc động, thương cho Người hơn cả chính mình.


Ông không phải là Đấng Ki-Tô sao? Hãy tự cứu mình đi và cứu cả chúng tôi với!”

Đang lúc lòng tan nát vì mến thương người, nghe câu nói hắn bừng giận, mắng ngay:

Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa mày cũng không biết sợ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm chứ ông này đâu có làm gì trái!”

Cố nén hơi thở dập dồn, im lặng giây phút lấy sức quay về bên Chúa, hắn nghẹn ngào :

Ông Giê-su ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!”(Lc 23,39-43).

Đôi môi khô cứng mềm đi bởi lòng cảm xúc, được nói với Người câu đầu tiên trong bối cảnh nao lòng…Người nói với anh: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.”

Huyền nhiệm Tình Trời nay đã mở. Lời hứa, Lời Tình Can-vê ru anh vào giấc ngủ thần tiên.

  ***

Nguồn: sách suy niệm
     

Để gửi thảo luận, ACE vui lòng đăng nhập hệ thống.